Trung tâm Năng suất Việt Nam
Đang tải dữ liệu...
      
      

Quản lý chất lượng
ISO 9000
ISO/TS 16949
ISO 13485
ISO/TS 29001
Quản lý môi trường
ISO 14000
An toàn sức khỏe nghề nghiệp
OHSAS 18001
SA 8000
Quản lý an toàn thực phẩm
ISO 22000
HACCP
ISO 50001
Giới thiệu dịch vụ
DV tư vấn, đào tạo
Khách hàng
Quản lý phòng thí nghiệm
ISO/IEC 17025
ISO 15189
Quản lý an toàn thông tin
ISO/IEC 27000
ISO/IEC Guide 65
Giới thiệu chung
DV Tư vấn, đào tạo
Khách hàng tiêu biểu
ISO/IEC 17021
Giới thiệu chung
DV tư vấn, đào tạo
Khách hàng tiêu biểu
PAS 99:2006
Giới thiệu chung
DV tư vấn, đào tạo
Khách hàng tiêu biểu
ISO 31000
Giới thiệu chung
DV tư vấn, đào tạo
Khách hàng tiêu biểu
Công cụ cải tiến năng suất chất lượng
Thực hành tốt 5S
Hệ thống sản xuất tinh gọn - Lean
Duy trì hiệu suất thiết bị tổng thể - TPM
Chỉ số đánh giá hoạt động chính - KPI
Đánh giá năng lực và hiệu quả công việc
Phương pháp cải tiến Kaizen
Six Sigma
Đo lường năng suất
Lean Six Sigma - LSS
Quản lý chất lượng toàn diện - TQM
Kiểm soát quá trình bằng kỹ thuật thống kê - SPC
Nhóm kiểm soát chất lượng - QCC
Thực hành sản xuất tốt - GMP
Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM
Khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên
Dự án
Chương trình - dự án điểm
Chương trình - Dự Án APO

Tính liên kết chuẩn – Từ quan trọng nhất trong đo lường

Nguyễn Khắc Sương
VILAS – Ban kỹ thuật đo lường hiệu chuẩn

Thừa nhận lẫn nhau về các báo cáo thử nghiệm và các giấy chứng nhận hiệu chuẩn là điều kiện tiên quyết rất quan trọng cho thương mại tự do, Sự thừa nhận lẫn nhau dựa tren niềm tin vào tính so sánh được của các kết quả thử nghiệm và hiệu chuẩn.

Để đạt được tính so sánh của các kết quả do các phòng thí nghiệm đã được công nhận cung cấp thì các cơ quan công nhận phải có chính sách về tính liên kết chuẩn và coi khả năng liên kết chuẩn tới đơn vị đo SI (hệ đơn vị đo lường quốc tế) là điều kiện tiên quyết cơ bản nhất để đạt được tính so sánh của các kết quả định lượng nhận được trong thử nhiệm và hiệu chuẩn.

Vì sao các phép đo phải liên kết chuẩn?

Trước đó là do nhu cầu tất yếu của các phòng hiệu chuẩn vì nó là công cục thực hiện các mắt xích trong kênh liên kết chuẩn. Công nhận phòng thí nghiệm được công nhận chính xác và tin cậy. Người sử dụng có thể tin ở các dữ liệu mà phòng thí nghiệm đó đưa ra trong phạm vi được công nhận. Do vậy các phòng thí nghiệm muốn được công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025 phải chứng tỏ được khả năng liên kết chuẩn của các kết quả đo và thử nghiệm của mình.

Không chỉ đối với phòng thí nghiệm mà tính liên kết chuẩn còn là yêu cầu đảm bảo năng lực kỹ thuật của các tổ chức sản xuất, dịch vụ mong muốn sản xuất của mình đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Các phép đo có khả năng liên kết chuẩn sẽ đảm bảo sự giống nhau của các hàng hóa sản xuất và quá trình công nghiệp. Chúng hỗ trợ cho sự công bằng trong thương mại cũng như cho sự phát phù hợp với tiêu chuẩn và các văn bản pháp quy. Hiện nay nhiều tổ chức chính phủ các thiết bị dùng trong thử nghiệm sản phẩm mà nó cung cấp phải có khả năng liên kết chuẩn nhằm đảm bảo các sản phẩm được sản xuất ra trong nước sẽ có cơ hội được các nước khác chấp nhận; đăc biệt là đối với các sản phẩm liên quan đến sức khỏe con người, đến sự ô nhiễm môi trường và an tòan. Như vậy khi tính liên kết chuẩn được cấu thành trong hợp đồng mua bán, trong các văng bản pháp quy thì nó mới trở thành yêu cầu có tính pháp lý.

Sự chấp nhận các tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000, ISO 14000 ... trên thế giới ngày càng nhiều cũng dẫn tới sự gia tăng các yêu càu trong thương mại về phép hiệu chuẩn các thiết bị đo và thử nghiệm có khả năng liên kết chuẩn. Như vậy những tổ chức được chứng nhận theo ISO 9001, ISO 14001 ... cũng phải chứng tỏ được yêu cầu về khả năng liên kết chuẩn của các kết quả đo và thử nghiệm của mình.

Liên kết chuẩn là gì?

Tính liên kết được định nghĩa là “Tính chất của kết quả đo hoặc giá trị của một chuẩn mà nhờ đó có thể liên hệ tới những chuẩn đã định, thường đó là chuẩn quốc gia hay chuẩn quốc tế, thông qua một chuỗi so sánh không gián đoạn với những độ không đảm bảo đo đã định”.

Như vậy tính liên kết chuẩn là tính chất của một kết quả đo, là một quá trình liên hệ kết quả đo với chuẩn đo lường đã định. Quá trình này tạo nên một kênh liên kết chuẩn đo lường đã định. Chuẩn đo lường đã định có thể là định nghĩa của một đơn vị SI đã được thực hiện hoặc một thủ tục đo hoặc một chuẩn đo lường. Điều kiện tiên quyết của tính liên kết chuẩn là một sơ đồ hiệu chuẩn được thiết lập, vì hiệu chuẩn là biện pháp để thực hiện tính liên kết chuẩn. Hiệu chuẩn có khả năng quy chuẩn là nhằm đảm bảo cho phép đo tương thích trong không gian và thời gian. Đặc tính quan trọng nhất của các phép đo tương thích là mức độ mà nó phù hợp với những phép đo khác được thực hiện ở địa điểm khác, ở thời gian khác. Mức độ phù hợp của kết quả đo là giới hạn thống kê cho phép, được diễn đạt theo độ không đảm bảo đo. Cũng cần lưu ý với những phép đo có nhiều đại lượng đầu vào trong phương trình đo thì bản thân mỗi đại lượng đầu vào cũng phải có khả năng liên kết chuẩn và quy định kỹ thuật của các chuẩn đo lường phải bao gồm cả thời gian mà chuẩn đó được dùng khi thiết lập sơ đồ hiệu chuẩn.

Các yếu tố của tính liên kết chuẩn:

Các yếu tố của tính liên kết được đặc trưng bởi:

  • Một kênh hiệu chuẩn hoặc so sánh không gián đoạn quy về các chuẩn đã định được các bên chấp nhận, thường là chuẩn quốc gia hoặc chuẩn quốc tế;
  • Độ không bảo đảm đo; độ không đảm bảo đo cho mỗi bước trong kênh liên kết chuẩn phải được tính theo những phương pháp đã được thừa nhận và phải tuyên bố sao cho độ không đảm bảo đo tổng thể cho toàn kênh có thể tính được.
  • Tài liệu chứng minh; mỗi bước trong kênh phải thực hiện thep những thủ tục đã được thừa nhận và được tài liệu hóa; kết quả phải được lưu lại.
  • Năng lực; phòng thí nghiệm hoặc tổ chức thực hiện một hoặc nhiều bước trong kênh phải cung cấp bằng chứng về năng lực kỹ thuật (ví dụ như phòng thí nghiệm đã được công nhận ...)
  • Tham chiếu tới đơn vị SI; khi có thể, kênh hiệu chuẩn (so sánh) phải kết thúc ở các chuẩn đầu thực hiện đơn vị SI.
  • Khoảng hiệu chuẩn; hiệu chuẩn phải được lặp lại ở những khoảng thời gian thích hợp. Chu kỳ hiệu chuẩn tùy thuộc vào một số yêu cầu kỹ thuật và sử dụng thiết bị.

Như vậy khái niệm liên kết chuẩn liên quan chặt chẽ tới các khái niệm chuẩn đo lường, hiệu chuẩn, độ không đảm bảo đo, phương pháp đo, công nhận (năng lực phòng hiệu chuẩn).

Thiết lập tính liên kết chuẩn:

Có thể phân chia các phép đo theo hai loại tham số tổng quát:

  • Phép đo vật lý như khối lượng, độ dài, thời gian...
  • Phép đo phân tích dùng trong các lĩnh vực hóa, sinh, môi trường như mẫu môi trường, thực phẩm, những sản phẩm bò sữa và nông nghiệp, những sản phẩm y sinh ...

Tính liên kết chuẩn trong đo lường vật lý đạt được thông qua hệ thống hiệu chuẩn theo thứ bậc với những chuân quốc gia được xem là điểm quy chuẩn chung đặt ở các phòng chuẩn đo lường quốc gia.

Khi thiết lập tính liên kết chuẩn ở mỗi đường nối trong kênh liên kết chuẩn phải bao gồm các yếu tố sau:

  • Một đại lượng đo được xác định rõ ràng;
  • Một sự mô tả đầy đủ về hệ thống đo hoặc chuẩn công tác được dùng để thực hiện phép đo.;
  • Một kết quả đo hoặc một giá trị được ấn định rõ cùng với độ không đảm bảo đo được tài liệu hóa;
  • Một quy định kỹ thuật đầy đủ của chuẩn đã ấn định ở thời điểm hệ thống đo hoặc chuẩn công tác được so sánh với nó;
  • Một “chương trình đảm bảo đo lường nội bộ” về việc thiết lập tình trạng của hệ thống đo hoặc chuẩn công tác ở thời điểm thích hợp với việc chứng minh tính liên kết chuẩn;
  • Một “chương trình đảm bảo đo lường nội bộ” về việc thiết lập tình trạng của chuẩn ấn định tở thời điểm mà hệ thống đo hoặc chuẩn công tác được so sánh với nó.

Một chương trình đảm bảo đo lường nội bộ có thể khá đơn giản hoặc rất phức tạp. Mức độ phức tạp được xác định tùy theo mức độ không đảm bảo đưa ra và cái gì là cần thiết để chứng minh sự tin cậy của nó. Người sử dụng kết quả đo có trách nhiệm cái gì là đầy đủ để đáp ứng nhu cầu của mình.

Tuy nhiên đạt được tính liên kết trong đo lường phân tích thì gặp nhiều vấn đề phức tạp hơn, ví dụ như đường nối của phép đo phân tích với đơn vị SI, sự xác lập điểm quy chuẩn chung chẳng hạn. Một cách liên kết chuẩn trong nhiều phép đo phân tích (hóa) đã được gắn kết vào điểm quy chuẩn chung qua các phương pháp phân tích đã được quốc tế thừa nhận. Tuy vậy điều này vẫn không tạo đủ niềm tin về độ tin cậy của các phép đo phân tích. Hiện nay tính liên kết chuẩn trong các phép đo phân tích đã đạt được bằng cách thiết lập tính liên kết chuẩn cụ thể tới đơn vị mol (đơn vị lượng chất trong hệ đơn vị SI) và các chất chuẩn. Chất chuẩn trong đo lường phân tích giống như vai trò của chuẩn đo lường trong đo lường vật lý để đạt được tính liên kết chuẩn của các kết quả đo.

Để thiết lập đươc tính liên kết chuẩn trong đo lường phân tích thì cần xác lập các yếu tố chủ chốt sau:

  • Quy định đại lượng đo, phạm vi đo và độ không đảm bảo đo cần thiết;
  • Chọn phương pháp thích hợp để ước lượng giá trị đo, nghĩa là một thủ tục đo kèm theo cách tính toán (phương pháp đo) và những điều kiện đo;
  • Thông qua xác nhận hiệu của phương pháp để chứng tỏ cách tính toán và những điều kiện đo bao gồm những đại lượng ảnh có tác động đáng kể đến kết quả đo hoặc giá trị đã ấn định cho một chuẩn;
  • Xác định tầm quan trọng tương đối của mỗi đại lượng ảnh hưởng;
  • Lựa chọn và áp dụng những hiệu chuẩn thích hợp;
  • Ước lượng độ không đảm bảo đo;

Cơ sở hạ tầng của tính liên kết chuẩn:

Khía cạnh nhà khoa học của tính liên kết chuẩn bao gồm những nguyên lý do đó các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên sử dụng độc lập ở mọi nơi. Khía cạnh pháp lý của tính liên kết chuẩn bao gồm một hạ tầng cơ sở được chính phủ thiết lập và duy trì để trong đó các phép đo được thực hiện. Nhìn chung hạ tâng cơ sở này gồm ba thành phần chính:

  • Sự chấp nhận có tính pháp lý toàn cầu về hệ đơn vị đo quốc tế (SI) như là hệ thống đơn vị cân đo cơ bản;
  • Thiết lập các phòng thí nghiệm quốc gia (như Trung tâm đo lường Việt Nam – VMI -) có trách nhiệm duy trì các chuẩn đo lường thể hiện đơn vị SI và truyền các giá trị của chúng tới các phòng hiệu chuẩn;
  • Sự xác định, thực hiện và sử dụng các phương pháp và thủ tục để theo đó các phòng hiệu chuẩn riêng lẻ so sánh chuẩn đo lường của mình với chuẩn đo lường của các phòng thí nghiệm quốc gia.

Từ đó có thể xem cơ sở hạ tầng của một hệ thống đo lường quốc gia là: các chuẩn đo lường quốc gia và hệ thống phòng hiệu chuẩn được công nhận (như VILAS).

Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, hệ thống đo lường quốc gia của Việt Nam cũng phải hài hòa. Sự hài hòa của hệ thống đo lường quốc gia dựa trên nguyên tắc là các Viện đo lường quốc gia (như VMI) tham gia vào các tổ chức đo lường quốc tế và khu vực (như Ủy ban cân đo quốc tế) CIPM, chương trình đo lường châu á – Thái bình dương APMP) và cơ quan công nhận của quốc gia (như Văn phòng công nhận chất lượng BoA) tham gia và các tổ chức công nhận quốc tế và khu vực (như ILAC, APLAC ...). Sau đó các tổ chức quốc tề này xây dựng các thỏa ước thừa nhận lẫn nhau (MAR) giữa các Viện đo luờng quốc gia của các nước thành viên (như CIPM MRA), giữa các cơ quan công nhận của các nước thành viên (như ILAC/APLAC MRA). Các Viện đo luờng quốc gia nào tham gia thành công vào CIPM MRA thì chứng tỏ rằng các chuẩn đo lường quốc gia của họ tương đương với các chuẩn đo lường quốc gia của các nước thành viên khác và giấy chứng nhận của họ cấp ra cũng được các nước thành viên khác thừa nhận. Tương tự như vậy, các cơ quan công nhận nào được tham gia vào ILAC/APLAC MRA thì chứng tỏ rằng các giấy chứng nhân hiệu chuẩn, thử nghiệm, của họ tuơng đương với các giấy chứng nhận hiệu chuẩn, thử nghiệm của các nước thành viên khác trong MRA.

Cách thức liên kết chuẩn trên bình diện quốc tế được thể hiện trên hình 1.

Hình 1: Mô hình liên kết chuẩn toàn cầu

Cách thức liên kết chuẩn trong phạm vi quốc gia (Việt Nam) được thể hiện trên hình 2

Hình 2: Sơ đồ hiệu chuẩn từ chuẩn quốc gia đến sản phẩm cuối cùng

Kết luận:

Tính liên kết chuẩn là từ quan trọng trong đo lường. Mười năm qua (1995-2005) do tác động của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 trong công nghiệp và sự phát triển liên tục các chương trình công nhận phòng thí nghiệm của Văn phòng công nhận chất lượng (BoA/VILAS), nên nhận thưc về những vấn đề liên quan đến liên kết chuẩn và đo lường cũng ngày một rõ hơn. Tuy nhiên vẫn có yêu cầu phổ biến về tầm quan trọng của các trong công nghiệp. Tổ chức đo lường quốc gia, các cơ quan chứng nhận và công nhận cần phối hợp để hoàn thành nhiệm vụ này và đảm bảo sự đồng thuận về những vấn đề còn tranh cãi.

Bài mới:  
Bài đã đăng:
Lịch sự kiện
HNSWHà Nội, 9-13/9/2013: Đào tạo Chuyên gia đánh giá trưởng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008
HNSWHà Nội, 14-16/05/2014: Đào tạo Đánh giá nội bộ hệ thống tích hợp theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004
HNSWHà Nội, 15- 16/05/2014: Đào tạo Đáp ứng các yêu cầu của luật định và nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001
HNSWHà Nội, 24/04/2014: Đào tạo Hướng dẫn áp dụng hệ thống quản lý an toàn thông tin ISO/IEC 27000
HNSWHà Nội, 22-23/04/2014: Đào tạo Hướng dẫn áp dụng và đánh giá nội bộ hệ thống phân tích mối nguy - điểm kiểm soát tới hạn - HACCP
HNSWTP. Hồ Chí Minh, ngày 27-28/2/2014: Quản trị hành chính văn phòng hiệu quả
HNSWHà Nội, 02-04/04/2014: Đánh giá nội bộ hệ thống tích hợp theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 14001:2004
HNSWHà Nội, 25 - 26/03/2014: Đào tạo Quản lý lưu kho và hoạch định nhu cầu vật tư
HNSWHà Nội, 26-28/03/2014: Đào tạo Hướng dẫn áp dụng và đánh giá hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp theo tiêu chuẩn OHSAS 18001
HNSWHà Nội, 18 - 19/03/2014: Đào tạo Đáp ứng các yêu cầu của luật định và nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001